Cảnh báo nguy hiểm dấu hiệu: Bạch cầu tăng cao ở người lớn

Công thức máu của người bình thường gồm 3 yếu tố chính là bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu. Đối với một cơ thể bình thường sẽ có số lượng bach cầu, hồng cầu và tiểu cầu như thế nào? Hãy cùng Tasscare làm rõ điều này trong bài viết sau bạn nhé!

1. Bạch cầu (tế bào máu trắng)

Bạch cầu là tế bào có chức năng như một phần của hệ thống miễn dịch của cơ thể con người, giúp bảo vệ cơ thể khỏi nhiễm trùng và bệnh tật. Số lượng bạch cầu trong một đơn vị máu được kí hiệu là WBC (white blood cell). Một người bình thường thì giá trị của WBC trung bình là khoảng 7.000 bạch cầu/mm³ máu (dao động từ 4.000 – 10.000 bạch cầu/mm³). Số lượng bạch cầu tăng cao khi mắc các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, bệnh bạch huyết cấp hay mãn tính.

Bạch cầu gồm các loại như: đa nhân trung tính (1.700 – 7.000 trong 1 mm³), đa nhân ái toan (50 – 500 trong 1 mm³), đa nhân ái kiềm (10 – 50 trong 1 mm³), mono bào (100 – 1.000 trong 1 mm³), bạch cầu lympho (1.000 – 4.000 trong 1 mm³).

Bạch cầu cấp là do các tế bào máu bị ung thư hóa trong quá trình tạo ra các tế bào máu. Số lượng các tế bào ung thư tăng lên rất nhanh, nếu không điều trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong. Nguyên nhân gây tăng lượng bạch cầu là do nhiễm khuẩn từ vi khuẩn, ký sinh trùng hay khi các cơ quan trong cơ thể bị nhiễm khuẩn do bị viêm phổi, áp-xe gan hoặc khi bị bệnh ung thư.

2. Hồng cầu (tế bào màu đỏ)

Hồng cầu là tế bào có chức năng vận chuyển oxy đến tất cả các bộ phận của cơ thể. Quá trình sản sinh hồng cầu được thực hiện liên tục trong tủy xương, sau đó giải phóng vào dòng máu để thay thế các tế tào tuần hoàn máu cũ.

Số lượng hồng cầu có trong một đơn vị máu gọi là RBC (red blood cell). Với một cơ thể bình thường, lượng hồng cầu rơi vào khoảng 115-150 gram/lít tương đương với khoảng 27-34 picogram tế bào hồng cầu trong một lít máu (picogram là một phần nghìn tỷ gram hoặc 10-12 gram). Khối lượng bình thường của hồng cầu trong một lít máu là khoảng 77-98 femtolit.

Nếu hồng cầu thấp, điều đó có nghĩa là cơ thể bị thiếu máu. Bệnh này chủ yếu là do không có hoặc thiếu sắt trong máu. Nếu hồng cầu trong máu cao, cơ thể có thể bị rối loạn hô hấp, tuần hoàn, có thể có khối u…

3. Tiểu cầu

Tiểu cầu là tế bào có chức năng quan trọng trong việc đông cầm máu để ngăn chặn các vết thương chảy máu. Khi bị thương, tiểu cầu sẽ dính lại với nhau để tạo thành một lớp rào cản bên ngoài vết thương đó.

Ở người bình thường, số lượng tiểu cầu được tính trong một đơn vị máu gọi là PLC hoặc PLT (platelet cell). Trung bình tiểu cầu bình thường là khoảng 150.000 – 400.000tiểu cầu/mm³ máu. Mỗi lít máu có khoảng 150-400 tỷ tiểu cầu. Khi số lượng tiểu cầu dưới 100.000/mm³ máu thì nguy cơ xuất huyết tăng lên tức là máu sẽ chảy ra nhiều hơn, gây nguy hiểm cho người bệnh. Thể tích trung bình của tiểu cầu được tính theo MPV (đơn vị femtolit) vào khoảng 7,5-11,5 femtolit.

Nếu số lượng tiểu cầu thấp (còn gọi là giảm tiểu cầu) sẽ tăng nguy cơ xuất huyết nhiều, máu chảy quá mức hoặc vết thương bị bầm tím.

Nếu số lượng tiểu cầu cao (còn gọi là tăng tiểu cầu) sẽ khiến bệnh nhân mắc chứng huyết khối trong những truờng hợp nhất định. Do đó, bạn nên thường xuyên vận động thư giãn, không ngồi một chỗ trong nhiều giờ liền vì sẽ khiến máu bị tụ lại một số nơi như bàn chân…

Các giá trị số lượng của bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu trong công thức máu của người bình thường sẽ khác nhau và có sự thay đổi tùy theo trạng thái tâm lí, lứa tuổi, giới tính, chủng tộc và thiết bị làm xét nghiệm… Để cơ thể luôn khỏe mạnh thì bạn nên thường xuyên kiểm tra các chỉ số máu của mình cũng như khám tổng quát cơ thể để ngăn ngừa các dấu hiệu bệnh có thể xảy ra, từ đó có biện pháp điều trị kịp thời nhất.

You might also like

Leave a Reply